Cách trị bệnh đái dầm ở trẻ em: những mẹo trị đái dầm cho trẻ hay

0
40

Một số cha mẹ khi thấy con mình đái dầm một lần sẽ lo lắng và nghi ngờ con bị đái dầm. Thực tế, việc thỉnh thoảng đái dầm để xem con có mệt quá hay không cũng không cần quá lo lắng. Một phần đáng kể của hiện tượng đái dầm có thể tự khỏi. Có thể thuyên giảm tự phát ở 15% trẻ em. Tuy nhiên, nếu trẻ trên 5 tuổi mà đái dầm ít nhất 2 lần / tuần trung bình trên 3 tháng thì nên chủ động áp dụng những cách trị bệnh đái dầm ở trẻ em.

Trẻ em bị đái dầm nên làm gì?

Khám phụ cũng là một phần quan trọng để chẩn đoán đái dầm. Khám định kỳ nước tiểu cơ bản nhất phù hợp với tất cả trẻ mới được chẩn đoán. Chẳng hạn như nhiễm trùng đường tiết niệu, đái tháo nhạt và đái tháo nhạt.

Siêu âm đường tiết niệu cũng có thể được sử dụng để hiểu cấu trúc của thận, bàng quang và niệu quản, để loại trừ sơ bộ các dị tật bẩm sinh của hệ tiết niệu, và để hiểu tình trạng và chức năng của bàng quang bằng cách phát hiện dung tích bàng quang, độ dày thành bàng quang và lượng nước tiểu còn lại .

Trẻ bị đái dầm phải làm sao?

Đối với trẻ đái dầm ban đêm đơn thuần, nếu không có bệnh lý cơ bản thì việc điều trị cơ bản là rất quan trọng, cần có sự hợp tác tích cực và động viên tích cực của cha mẹ. Mức độ hợp tác của cha mẹ với việc điều trị và môi trường gia đình có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị của trẻ. Bạn có thể áp dụng một vài mẹo trị đái dầm cho trẻ sau đây:

– Đầu tiên, đừng đổ lỗi cho trẻ. Cha mẹ nên nhấn mạnh rằng trẻ đái dầm vào ban đêm không phải là lỗi của trẻ, và tránh đổ lỗi cho trẻ. Bản thân việc đái dầm của trẻ sẽ gây ra sự xấu hổ, xấu hổ, lúc này nếu cha mẹ đánh, mắng rất dễ làm tăng mặc cảm cho trẻ, trẻ cần được tôn trọng, vỗ về, khuyến khích cô (cháu) học tập và sống bình thường.

– Thứ hai, không uống nhiều nước trước khi đi ngủ. Về chế độ ăn uống, tránh thức ăn và đồ uống có nhiều gia vị, caffein hoặc theophylline. Để đảm bảo lượng nước bình thường hàng ngày của trẻ, không kiểm soát lượng nước uống vào ban ngày của trẻ, và giảm lượng nước một cách thích hợp từ 3 đến 4 giờ trước khi đi ngủ vào ban đêm. Ăn tối sớm hơn, tốt nhất là ăn nhạt, ít muối, ít dầu mỡ, ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ như rau muống, súp lơ, bí đỏ, các loại ngũ cốc,… không nên uống nhiều nước và ăn sữa, nước hoa quả trước khi đi khám.

– Thứ ba, quy tắc làm việc và nghỉ ngơi, hình thành thói quen đi tiểu tốt. Cha mẹ nên giáo dục và giám sát con cái của họ để hình thành thói quen đi tiểu tốt, thường là 4 đến 7 lần một ngày và cố gắng tránh những lời nhắc nhở không cần thiết đối với việc đi tiểu của trẻ. Ngoài ra, vào ban đêm, thông thường nên cho trẻ đi ngủ và nghỉ ngơi trước 9h, ngủ quá muộn không chỉ ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi và tăng trưởng, phát triển của trẻ mà còn ảnh hưởng không tốt đến việc thức giấc của trẻ. Không nên làm cho não quá hưng phấn trước khi đi ngủ như tập thể dục gắng sức, xem TV, phim ảnh, chơi game hấp dẫn, v.v. Đừng quên cho trẻ đi tiểu trước khi ngủ, điều đó không chỉ có thể giảm áp lực tâm lý cho trẻ mà còn dành không gian cho bàng quang chứa nước tiểu.

– Thứ tư, dậy hợp lý theo quy luật tiểu tiện của trẻ. Có nghĩa là, với tiền đề là trẻ không đái dầm, thời gian đánh thức phải được trì hoãn càng nhiều càng tốt, và không nên đánh thức trẻ để đi tiểu theo ý muốn, mà nên đánh thức trẻ khi bàng quang đã đầy. điểm đi tiểu. Sau khi xác định mức độ đi tiểu đều đặn của trẻ, hãy thường xuyên thức dậy để nâng cao nhận thức tỉnh táo của trẻ trong giai đoạn này giúp cho quá trình hồi phục của trẻ.

– Thứ năm, thực hiện rèn luyện chức năng bàng quang. Trong ngày, cha mẹ nên khuyến khích trẻ kéo dài thời gian đi tiểu một cách có ý thức và vừa phải, để sức chứa của bàng quang dần dần tăng lên, lượng nước tiểu sẽ được tích trữ nhiều hơn. Khi bàng quang của trẻ đã có chức năng dự trữ nước tiểu nhất định, cần tập cho trẻ thói quen nhịn tiểu trở lại giữa chừng, nên đi tiểu ngắt quãng, đổ hết nước tiểu theo từng giai đoạn để rèn luyện chức năng của cơ vòng bàng quang, để trẻ có thể tự mình kiểm soát việc đi tiểu.

Cuối cùng, hãy ghi nhật ký về chứng đái dầm. Các bậc cha mẹ nên ghi nhật ký chi tiết về chứng đái dầm để bác sĩ đánh giá tình trạng bệnh và phán đoán hiệu quả chữa bệnh. Sổ nhật ký đái dầm là cơ sở chính để đánh giá dung tích bàng quang và lượng nước tiểu ban đêm của trẻ, có thể đánh giá khách quan tình trạng đái dầm và cũng là cơ sở để lựa chọn phương pháp điều trị cụ thể, các gia đình có điều kiện nên ghi chép cẩn thận. Sổ nhật ký đái dầm có tỷ lệ sử dụng cao nhất là dạng bảng, chủ yếu do cha mẹ hoàn thành, cần ghi chép cụ thể tình trạng trẻ đi tiểu ít nhất 3-4 ngày 7 đêm, bao gồm thời gian đi tiểu, lượng tiểu. , thời gian hấp thụ chất lỏng và loại chất lỏng đưa vào., tổng lượng chất lỏng, thời gian bắt đầu đi tiểu không kiểm soát, tổng số lần đi tiểu không kiểm soát, thời gian thay tã, đi tiểu thường xuyên, tiểu gấp, tiểu khó, tiểu ngắt quãng và các triệu chứng khác.

Trẻ bị đái dầm uống thuốc gì?

Ngoài phương pháp điều trị cơ bản, hiện nay có hai phương pháp điều trị chính cho chứng đái dầm là báo động đái dầm và dùng thuốc.

Chuông báo đái dầm, đúng như tên gọi, là tiếng chuông báo thức để đánh thức trẻ đi tiểu khi trẻ chuẩn bị đi tiểu, có thể nhận biết trẻ đi tiểu ở lần đầu tiên. Cấu tạo quan trọng của chuông báo đái dầm là cảm biến độ ẩm, khi bàng quang của trẻ căng đầy trong khi ngủ, quá trình đi tiểu được bắt đầu, và nước tiểu thải ra sẽ kích thích cảm biến độ ẩm, gây ra tiếng chuông hoặc rung, có thể đánh thức trẻ. Theo thời gian, một phản xạ có điều kiện ổn định dần dần được hình thành, để trẻ có thể thức dậy đi tiểu từ lúc báo thức ban đầu, và dần dần chuyển sang chế độ tắt chuông báo thức và bị đánh thức bởi sự kích thích của bàng quang để thức dậy và tự đi tiểu. .

Dùng thuốc “desmopressin”. Desmopressin, một chất tương tự hormone chống bài niệu, hiện là một loại thuốc thường được sử dụng để điều trị chứng đái dầm. Thuốc có thể tăng cường cô đặc của nước tiểu ở trẻ em vào ban đêm, do đó, sản xuất nước tiểu bị giảm. Sau khi điều trị bằng desmopressin, một số trẻ có thể cải thiện các triệu chứng trong thời gian ngắn, nhưng các triệu chứng này rất dễ lặp lại sau khi ngừng thuốc, vì vậy nói chung cần tiếp tục dùng thuốc trong ít nhất 3 tháng. Nên uống Desmopressin trước khi đi ngủ, hạn chế uống nước 1 giờ trước và 8 giờ sau khi uống để thuốc phát huy tác dụng và giảm phản ứng có hại.

Tác hại của chứng đái dầm thường bị xã hội coi thường và bỏ qua. Tôi hy vọng bài giới thiệu hôm nay có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về chứng đái dầm, và đừng để chứng đái dầm làm ảnh hưởng đến tương lai của con bạn.